1. Gần đây thỉnh thoảng có người hỏi tôi: “Bây giờ người ta toàn dùng thăm quan, ít người dùng tham quan, chị thay đổi ý kiến cũ chứ?”. Đó là do trước đây tôi có viết bài phê phán cách dùng nhầm tham quan thành thăm quan trên TC Ngôn ngữ và đời sống, năm 2000. Khi nghe hỏi vậy tôi có chú ý cách nói trong đời thường, và tra Google thì thấy cách dùng thăm quan có nhiều hơn trước.Ví dụ:
- Chùm ảnh: Thăm quan khách sạn 7 sao, Dân trí, Thứ Hai, 28/07/2008 - 15:13.
-…nước sông Ly Giang không ngừng giảm trong thời gian gần đây, hành trình đi du thuyền thăm quan trên sông Ly Giang sẽ được điều chỉnh bắt đầu từ ngày 18/11/2009 (trên Google).
Trong bài viết này tôi nêu một số thông tin mong được các bạn góp ý, tìm hiểu, để xác định cách viết chuẩn từ tham quan trong tiếng Việt.
2.Từ tham quan và thăm quan trong các Từ điển tiếng Việt (TĐTV)
Tra 8 quyển TĐTV cơ bản (trong TK 20) mà chúng tôi thường xuyên tham khảo:
a. tham quan:
Từ Điển Khai Trí, 1931, không thu thập
TĐĐào Văn Tập, 1951, dt. Viên quan ăn hối-lộ. tham-quan ô-lại.
TĐ Thanh Nghị, 1954, dt. Như Tham lại.
TĐ Văn Tân 1967, đgt. Xem xét một nơi nào. Đi tham quan Khu gang thép.
TĐ Lê Văn Đức 1970, dt. Người làm quan có tánh tham, hay ăn hối-lộ, hay làm khó dân để vơ-vét. Cuối triều Tây-sơn, vì nạn tham-quan mà hư-hỏng cả.
TĐ Hoàng Phê, 1988-2006 đgt Xem thấy tận mắt để mở rộng hiểu biết hoặc học tập kinh nghiệm. Tham quan di tích lịch sử. Tham quan nhà máy. Tổ chức đi tham quan.
TĐ Nguyễn Lân, 2000 A dt (H. tham: ham muốn; quan: quan lại) Quan lại tham nhũng. Lũ tham quan nào có thương ai (PhBChâu).
B đgt. (H. tham: dự vào; quan: xem xét) Đến một nơi nào để xem xét, nhằm mở rộng hiểu biết. Nhân viên hướng dẫn các đoàn tham quan di tích lịch sử (NgTuân)
TĐ Đại Từ Điển, 1999, đgt. Đi đến nơi nào đó để xem xét, mở mang hiểu biết. tham quan di tích lịch sử. tham quan nhà máy.
b. thăm quan: Không có từ điển nào thu thập.
Qua các TĐTV của TK 20, có nhận xét sau:
-thăm quan chưa được chấp nhận trong tiếng Việt.
-tham quan có mặt trong 7/8 TĐTV, với cách đưa nghĩa khác nhau:
+3 từ điển cũ hơn (chữ đen) chỉ thu thập tham quan danh từ (= tham quan ô lại).
+3 từ điển mới hơn, ở miền Bắc (chữ đỏ) chỉ thu thập tham quan động từ (= đi đến xem để mở rộng hiểu biết…)
+1 TĐ Nguyễn Lân 2000, thu thập cả A tham quan dt, cả B tham quan đgt.
3. Nguồn gốc và ý nghĩa của tham quan và thăm quan
Tham quan là một từ Hán-Việt đã được mượn trong tiếng Việt từ khoảng nửa đầu TK 20 (TĐ Khai Trí 1931 chưa có tham quan, TĐ Thanh Nghị 1951 đã có).
Từ tiếng Hán tham quan 貪官, tham quan ô lại 貪官污吏 được tiếng Việt vay mượn nguyên khối. Đây là danh từ.
Còn 參觀 tham quan tiếng Hán có hai nghĩa 加入(gia nhập) và 參考(tham khảo). Khi được mượn vào tiếng Việt hai nghĩa này tạo thành hai dãy từ phái sinh khác nhau. Với nghĩa "gia nhập", tham có mặt trong các từ Hán-Việt tham chiến, tham chính, tham dự, tham gia, tham luận,... Với nghĩa "tham khảo", tham có mặt trong tham bác, tham khảo, tham quan, tham vấn,... Trong tiếng Việt, tham quan động từ có nghĩa "xem nhìn tận nơi để thêm hiểu biết và học hỏi kinh nghiệm". Nghĩa đầy đủ của tham quan không được phản ánh trong thăm quan, vì thăm là "đến, xem xét để biết qua tình hình" + quan là “nhìn”. Thăm quan khác nghĩa tham quan, nó không thể thay thế tham quan và xem ra, nó khó có khả năng tồn tại trong tiếng Việt.Thăm quan xuất hiện có thể nhiều trường hợp là do viết vội, viết theo cách nói nhầm, nói địa phương, thậm chí do trình độ tiếng Việt của người đánh văn bản, chữa bản in, v.v.
Như vậy, thăm quan chỉ là sự dùng sai của một số ít người. Nó làm cho tiếng Việt nghèo đi, nó phá vỡ tính hệ thống của từ vựng (thể hiện trong cấu trúc các dãy từ Hán-Việt đã nêu).
4. Thống kê cách dùng tham quan và thăm quan hiện nay
a. Khi tôi viết bài năm 2000 thì chưa có từ thăm quan trong Kho tư liệu từ điển, Kho này kết thúc thu thập từ năm 1985.
b. Xem vào Ngân hàng dữ liệu tiếng Việt trên máy tính của Trung tâm từ điển học, 5/2000, gồm 50 triệu âm tiết, thì trong số 840 bản ghi có 800 bản ghi viết tham quan, chiếm 95,24%, và 40 bản ghi viết thăm quan, chiếm 4,76%.
c. Trong Kho tư liệu trên máy tính của Phòng Từ điển ngữ văn, gồm 14 triệu âm tiết, thì có 10 bản ghithăm quan và 500 bản ghi tham quan. Nhưng thăm quan không có kết hợp chặt của một từ, nên trong 10 bản ghi nhận được thì có 2 trường hợp là “…chuyến thăm quan trọng…”; 2 trường hợp là “…hỏi thăm quan tuần…”, “…hỏi thăm quan họ…”; chỉ 6 trường hợp dùng thăm quan với nghĩa tham quan. Tham quanlà từ có kết hợp chặt chẽ, không bị lẫn sang từ khác. Như vậy trong số 506 bản ghi thì tham quan chiếm 98,8%, thăm quan chiếm 1,2%.
d. Tuy nhiên cả 3 kho dữ liệu trên đều không được cập nhật trong khoảng 10 năm gần nhất. Không còn cách nào khác, chúng tôi đành phải tra cứu trên mạng Google.
- Mạng tra cứu này có nhiều nhược điểm:
+dữ liệu đầu vào trùng lặp nhiều, thậm chí rất nhiều. Tác phẩm đưa vào tùy tiện.
+chính tả trong văn bản sai nhiều: sai con chữ, sai dấu… (chỉ cần nhầm một chút là tham quan thànhthăm quan hoăc ngược lại).
+con số thống kê cũng không chính xác.
- Cách thông kê:
+tra tham quan 20 trang, tức 200 bản ghi 15/1/2010. Kết quả:
tham quan - 172 bản ghi 86%
thăm quan - 28 bản ghi 14%
tham quan gấp 6,1 lần thăm quan (172:28= 6,1)
+tra thăm quan 20 trang, tức 200 bản ghi 15/1/2010. Kết quả:
tham quan - 53 bản ghi 23,5%
thăm quan - 173 bản ghi 76,5%
thăm quan gấp 3,2 lần tham quan (176,5:53=3,2)
- Nhận xét: Mạng Google có lượng tư liệu tiếng Việt đầy đủ nhất và cập nhật nhất hiện nay. Nhưng đây không phải kho ngữ liệu phục vụ nghiên cứu và biên soạn từ điển, nên sự thống kê của chúng tôi chỉ có tính chất tham khảo thêm khi chưa có kho ngữ liệu tiếng Việt đáp ứng đúng yêu cầu.
So với ba Kho ngữ liệu a., b., c. thì việc sử dụng thăm quan hiện nay là nhiều nhất so với tham quan. Songthăm quan vẫn chưa áp đảo được tham quan. Khi tra tham quan, thì tham quan gấp 6,1 lần thăm quan. Còn khi tra thăm quan, thì thăm quan chỉ gấp 3,2 lần tham quan.
5. Kết luận
Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, có chức năng làm phương tiện giao tiếp của con người. Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ luôn biến đổi, cái mới nảy sinh phát triển, cái cũ lụi tàn, tiêu vong. Ví dụ, quan ngạicũ là “mắc míu, trở ngại”, còn bây giờ là “quan tâm lo ngại”, như: bày tỏ mối quan ngại.
Với từ thăm quan, nhiều người cho là sự Việt hóa, dùng thăm dễ hiểu hơn là tham! Và nếu sự biến đổi được xã hội chấp nhận thì nên ủng hộ. Thậm chí không ủng hộ mà xã hội cứ dùng thì rồi sẽ thành thói quen!
Ý kiến ngược lại cho tham quan là từ mượn đã lâu, đã thành hệ thống (tham quan, tham bác, tham khảo, tham vấn) trong tiếng Việt. Tham quan làm giàu cho tiếng Việt, nghĩa chính xác và được dùng quen trong xã hội, vừa ở dạng văn viết, vừa trong ngôn ngữ nói.
Tới đây, tôi muốn xin ý kiến của bạn bè,- với tư cách là người bản ngữ, chúng ta ủng hộ cách dùng từtham quan hay thăm quan trong tiếng Việt để góp phần làm cho tiếng ta trong sáng và phong phú hơn? Xin chân thành cảm ơn..