20 Tháng Tám 2014
 
Diễn đànDiễn đànNghệ thuật và k...Nghệ thuật và k...Biển nguồn chữ ...Biển nguồn chữ ...Các từ Việt gốc Hán khẩu ngữCác từ Việt gốc Hán khẩu ngữ
Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Bài mới
 22/08/2009 5:02 SA
 

Chào các bác,

     Nhân bác ndthien hỏi từ "bảo kê" và đọc lại bài "các lớp từ" của bác Nghiệu và đồng nghiệp. Thấy bác ấy kết luận có phần hơi vội vã

"1.d. Cũng là những từ gốc Hán nhưng có một nhóm được du nhập vào tiếng Việt thông qua con đường khẩu ngữ của những người nói phương ngữ tiếng Hán. Nhóm này có số lượng không nhiều và nói chung không đem lại cho tiếng Việt ảnh hưởng đáng kể nào. Ví dụ: xì dầu, mì chính, vằng thắn, xá xíu, sủi cảo, lậu, lục tào xá, tào phớ, chí ma phù, bát bảo lư ờng xà..."

     Bác ấy xét toàn tên món ăn ở phố Tàu, thảo nào nói không mang lại cho tiếng Việt ảnh hưởng đáng kể. Chữ "bảo kê" ngày nay dùng khá rộng rãi trong hình sự, báo chí,... Vì thế tôi nảy ra ý đi sưu tầm mấy chữ gốc Hán khẩu ngữ để các bác hiểu được gốc một số từ này để dùng cho thoải mái và xem bác Nghiệu phán có đúng không.

Tôi kiếm được thread này thấy có vẻ hay ho http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?t=168&postdays=0&postorder=asc&start=0 và lọc lấy một số nội dung liên quan post lại dưới đây:

Các từ Hán khẩu ngữ đã Việt hóa đều được tìm ra từ Hán gốc. Tuy nhiên, nên nhớ đây cũng chỉ là suy đoán và là một loại lập luận thôi, Thí dụ Dầu Cháo Quẩy ở đây Quẩy lại có nghĩa là Cối.

 

BẢO KÊ : bảo hiểm, che chở. Đọc theo âm Tiều (Triều Châu) là Bo Kê. Âm hán việt là Bảo Gia. Bảo như bảo đảm, gia như nhà.

BÒ BÍA : khỏi cần giải thích rườm rà với món ăn quen thuộc của người miền Nam này. Có gốc là tiếng Tiều PỌT PIẾNG. Âm hán việt là Bạc Bính. Bạc là mỏng, Bính là bánh.

BONSAI : cây kiểng tí hon. Có gốc là tiếng Bạch Thoại, nếu đọc theo âm hán việt thì sẽ là Bồn Tài. Bồn như cái chậu. Tài có 2 nghĩa, vừa là trồng cây, vừa là làm cho nhỏ đi.

CÀ NA : tức là mấy món khoái khẩu của mấy cô mấy bà đó ! Cà na cánh chỉ đấy mà. Cà na là đọc theo âm Tiều. Âm hán việt là CẢM LÃM. Cảm là cây trám. Cảm lãm là trái trám.

CÁNH CHỈ : đọc theo âm Quảng Cá Ying Chỉ. Âm hán việt là Gia Ứng Tử. Chưa biết phẩi giải thích ra tiếng Việt thế nào cho ổn thỏa. Chỉ biết là Gia là một loại trái như cà. Còn tại sao lại Ứng thì chịu thua.

CÂU LẠC BÔ : mấy ông Tàu phiên âm chữ CLUB ra như thế đấy. Khi viết ra tiếng Hán chữ Club thì mình cứ theo đó mà đọc nên ra Câu Lạc Bộ. Nhớ lại một lần có cô trình dược viên vô quảng cáo thuốc giúp trí nhớ, chống lão hóa ở bên Tây này có tên là DUXIL. Cô ta khoe rằng tụi tui có bán thuốc này ở Trung Quốc và bán chạy lắm. Thế là cô ta đưa cho xem một cái hình trên đó có đề chữ Tàu, nhưng cô ta không biết ý nghĩa là gì. Té ra họ để chữ DUXIL đọc theo âm quan thoại là DUO KE XI (?) nhưng nếu mình đọc theo âm hán việt thì sẽ là ĐÔ KHẢ HỈ. Đúng là mấy ông Tàu vừa phiên âm nhưng cũng vừa thêm chút ý nghĩa. Đô khả hỉ ngầm ý rằng mấy cụ uống thuốc đó vô thì cả gia đình hả hê... ha ! ha !

CHẠP PHÔ : là tại mình đọc theo âm Quảng. Nếu đọc theo âm hán việt là Tạp Hoá, có thế thôi.

CHỆT : là chú chệt đấy, là tại mình đọc theo âm Tiều, chệc. Âm Quảng là Xúc, âm hán việt là Thúc. Có nghĩa là Chú, thế thôi.


CHÍ MÀ PHỦ : Cách đây chừng 2 năm, đọc một tờ báo VN, hình như là Tuổi Trẻ, họ có viết một phóng sự nho nhỏ về Hội An. Nghe nói rằng vẫn còn một bà cụ gốc Tàu, đã già lắm rồi nhưng vẫn gánh chè đi bán. Mà bà ta chuyên bán CHÍ MÀ PHỦ, một loại chè mè đen. CHÍ MÀ PHỦ là tại mình đọc theo âm Quảng "chí mà wủ". Âm hán việt của nó là "chi ma hồ". Chi ma là mè. Hồ là keo dán. Có lẽ là chè bằng mè đen nấu đường cho đặc kéo như hồ keo.

CÓN hoặc COóNG : Ăn mặc láng coóng. Đầu tóc chải là coóng. Âm Quảng là Qu-oóng. Âm hán việt là Quang, có nghĩa là trơn bóng, sạch sẽ rõ ràng. Quang như quang ảnh. Lý Bạch : Sàng tiền minh nguyết quang / Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng mình nguyệt / Địa đầu tư cố hương.

CỐNG HỈ : Chúc mừng, đọc theo âm Quàng Cúng Hểi. Âm hán việt là Cung hỉ.

CƠ ĐỐC : đọc cho đủ thì phải là CƠ LỢI TƯ ĐỐC. Đó là do dân Quảng phiên âm chữ Christus, Kêi-lêi Xì-Túc. Xin mở ngoặc để nói thêm là người Tàu và người Nhật không đọc chữ R được. Nên mỗi lần gặp chữ R thì họ đọc thành chữ L. Thí dụ Paris họ đọc là Palì, khi phiên lại thành hán việt là Ba Lê.

CÙ LỦ : tiếng này thì phải anh nào hay binh xập xám (bài 13 lá, xập xám là 13) mới biết. Cù lủ một đôi. Âm Quảng là fú lộu, âm hán việt là phù lỗ.

DÁCH : số dzách, số một. Đọc theo âm Quảng dách nghĩa là một.

DẦU CHÁ QUẨY : bánh chiên bột mì, có hai miếng dính với nhau. Vô mấy tiệm tàu ăn cơm thì họ hay để sẵn trên bàn. Ân cũng ngon ra phết, vừa mặn mặn ngọt ngọt thơm thơm. Âm Quảng là yầu chá quẩy. Âm hán việt là du tạc cối. Du là dầu. Du tạc là chiên lên bằng dầu. Cối là khối, có lẽ vì miếng bánh dính lại với nhau chăng? Ông Lê Ngọc Trụ còn savant hơn bảo rằng chữ cối có khi viết như chữ quỷ. Và chú thêm rằng dân chúng muốn trả thù Tần Cối đã giết tướng Nhạc Phi, trung thần của nhà Tống.

DỤ KHỊ : Khị là đọc theo chữ khuội, âm Quảng có nghĩa là nó. Dụ khị là dụ dỗ nó.

ĐẦU NẬU : âm Tiều là Thầu Náo. Hán việt đọc là đầu não. Như vậy đầu nậu là đầu não, đầu sỏ, thế thôi.

HÁ CẢO : đó là tại mình đọc theo âm Quảng. Hán Việt là Hà Giao. Hà là tôm. Còn giao là gì thì Thực không được rõ. Giao viết có bộ thực, thêm chữ giao (như giao tiếp) để chỉ âm.

HÀNG XÉN : Tiều đọc là Hàng Txiéng. Hán Việt là hàng chành. Hàng là hàng hiệu, ai ai cũng biết. Chành là gì thì không rõ, khi viết thì có bộ mộc và nửa bộ tiền.

HẮC QUẨY : âm Quàng. Âm hán việt là hắc quỷ.

HẦM BÀ LÀNG : đọc theo tiếng Quảng. Chữ này thì không có tương đương theo hán việt, vì rất có thể đó chỉ là thổ âm của Quảng. Có nghĩa là tổng cọng, toàn bộ.

HẦU BAO : Âm Quảng là hò páo. Hán Việt đọc là Hà bao. Có nghĩa là ví đựng tiền...

 

HẨU XỰC : Đọc theo giọng Quảng. Hán việt là hảo thực. Hảo là ngon tốt, thực là ăn. Ăn ngon, đồ ăn ngon.

HÒ XỪ XANG XÊ CỐNG LÍU : đọc theo giọng Quảng. Âm hán việt là Hà Sĩ Thượng Xích Công Lục. Ngũ âm của âm nhạc cổ truyền. Tương đương với đồ rê fa sol la đô. Tức là ngũ âm penta gì gì đó quên rồi, có phải là pentatonique không anh Khang? Tức là khi tiến thì mình tiến theo các nốt dièse, khi lùi thì mình lùi theo các nốt bémol. Ông Lê Ngọc Trụ chú thêm rằng có "lai Mông Cổ'. Thực không tin. Ông này chẳng rõ về nhạc lý mấy đâu.

HOÀNH THÁNH : Cái này thì ăn hoài, ai mà không biết. Đọc theo giọng Quảng wành thánh. Âm hán việt là Vân Thôn. Vân là mây, có lẽ là tại vì mấy cái hoành thánh nổi lình bình trên mấy cái nước béo như mây trôi lềnh bềnh chăng? Thôn là nuốt vào như thôn tính.

HỐI A ! : Đây là tiếng khai sòng bạc đọc theo giọng Quảng Hói A. Âm hán việt là Khai A ! Sẵn cha Vinh đang muốn binh bài thì Thực vẫn còn nhớ là chơi đỗ lúc-lắc còn được gọi là chơi tài xỉu. Tài là đại, tức là số lớn. Xỉu là tiểu, tức là số nhỏ.

HỒNG TẬU XÁ : thì cũng như LỤC TẦU XÁ. Hồng là đỏ. Tậu là đậu. XÁ là Chè. Tức là chè đậu đỏ.

HỦ TÍU : Nhìn là biết ngay tiếng có gốc Tiều. Rõ ràng là hủ tíu Nam Vang. Tiều đọc là Quẻ Tíu. Âm hán việt là Quả Điều. Tại sao lại là quả điều thì Thực đang tìm hiểu...
HUI NHỊ TÌ : Âm Quảng. Âm hán việt là Khứ Nghĩa Địa. Khứ là đi vô. Nghĩa địa thì miễn bàn. Nghĩa là anh ngủm cù tẻo.

HÚNG LÌU : Âm Quảng. Âm hán việt là hương liệu. Dễ hiểu thôi.

LẠP XƯỞNG : Giọng Quảng. Âm hán việt là Lạp Trường. Lạp viết có bộ nguyệt có nghĩa là tháng chạp. Trường viết có bộ nhục là ruột. Thịt heo dồn vào trong ruột phơi nắng tháng chạp. Xin đọc thêm bài "tô cháo tháng chạp" có đăng trong TTSB 2004. Lạp bát chúc là lễ mồng tám tháng chạp mời ăn cháo. Lúc đầu Thực tưởng tượng thêm rằng có lẽ miếng lạp xưởng dài loòng thoòng như cây nến, nên có lẽ Lạp là vì thế. Nhưng té ra không phải vậy. Lạp là nến (sáp ong) viết có bộ trùng (như côn trùng, ong).

LẨU : Trúng tủ rồi đây ! Đó là đọc theo giọng Quảng. Âm hán việt là Lư. Lư là lò lửa, dễ ợt.

LẬU : Thứ này thì lại không nên "trúng tủ". Thực ra đó là kiểu nói tắt của cụm từ FÁ LẬU PÈNG, âm Quảng. Âm hán việt là Hoa Liễu Bệnh. LẬU là liễu của từ hoa liễu. Hoa liễu thì hiểu như hoa của cây liễu, có thế thôi. Có lẽ hình dáng "chỗ ấy" khi bị bệnh thì giống giống như mấy cái hoa của liễu. Nếu muốn cho rõ thì phải nhờ cái webcam trong phòng khám của anh Hoà... ha ! ha !

LÌ XÌ : Âm Quảng. Hán việt là Lợi thì hoặc lợi thị. Lợi là lẽ đương nhiên. Ba hồi chữ Xì viết như thì là, bốn hồi lại viết như chữ thị có nghĩa là chợ búa. Chẳng phải Tết mới lì xì, nhân dịp lễ lớn như cưới hỏi, khai trương cũng lì xì hết ráo. Bây giờ thì vô gặp mấy "ổng" không lễ lạy gì hết nhưng vẫn phải đưa phong bì như thường!?!

LỤC TẦU XÁ :
Chè đậu xanh, đã bàn.

MĂ TẤU : Âm Quảng là mạ tốu. Âm hán việt là mã đao. Đao thì dễ hiểu rồi. Tại sao lại là Mã ? Có phải là mang theo lúc đi ngựa không?

MẠI BẢN : Âm Quảng mại pảl. Âm hán việt là Mãi biện. Mãi như bán buôn. Biện như bàn cãi, hùng biện. Tức là mấy anh đầu mối bán buôn.

MẠT CHƯỢC : Âm Quảng Mà Chược. Hán Việt là ma tước, tức là con chim nhỏ như chim sẻ. Nhưng nếu hỏi Thực tại sao lại có "chim" vô đây thì chịu thua. Nhờ cao nhân chỉ giáo thêm.

MẬU : Giọng Quảng. Hình như chỉ là thổ âm Quảng, không có âm hán việt. Âm hán việt chữ không là phủ, đọc theo quan thoại Bắc Kinh cũng là fủ. Rất xa với chữ mậu. Vả lại thấy ông Lê Ngọc Trụ viết lạ hoắc, không phải là chữ phủ cũng không phải là chữ vô. Vô đọc theo quan thoại là wủ. MẬU HẨU : không tốt. MẬU LÚI : không tiền, sạch túi. Xin xem thêm đoạn cha Vinh viết về bài xì phé và bài xập xám.

 

XÌ PHÉ : Ông Lê Gia viết là SÌ PHÉ. Sì với chữ S. Bởi vì ông nghĩ rằng SÌ là do chữ SI (HV), cũng đọc là SAI, có nghĩa là chọn lựa và so sánh với nhau. PHÉ là từ chữ PHI (HV), có nghĩa là từng cặp từng đôi. Ông lại nói rằng cũng có thể là do chữ PHỆ (HV) có nghĩa là từng nhóm, từng đống chống lại. Mình cũng hay nói "phản phé", có lẽ cũng từ đấy.

MẬU XẨU : XẨU thì ông Lê Gia nói rằng là do chữ THẤU (HV) mà ra, có nghĩa là ăn khớp đồng bộ với nhau. Xẩu bài là quân bài ăn khớp với nhau. Ông Lê Gia có chú thích thêm chữ Mùn Xẩu, không biết có giống chữ Mậu Xẩu hay không. Mùn là do chữ MÂN, nghĩa là hòa hợp, hoặc là do chữ MÔN là nhiều, hoặc là do chữ MÃN, đầy đủ, hoặc là do chữ MAN, kéo dài suốt. Xem điệu bộ thì ông Lê Gia cũng không chắc lắm. Mấy ông khác như Vương Hồng Sển, Lê Ngọc Trụ và mấy cuốn tự điển khác thì không có đề hoặc không giải thích đến nơi đến chốn.
MÌ CHÍNH : Quảng đọc là Mềi Chính. Hán Việt là Vị Tinh. Vị như mùi vị. Tinh như tinh tuyền, tinh xảo. Tức là bột ngọt.

NGẦU PÍN : Quảng đọc là ngầu píl. Hán Việt là Ngưu Tiên. Ngưu là bò. Tiên viết có bộ cách (da) chỉ nghĩa và tiên (roi) chỉ âm. Ông Lê Ngọc Trụ lại chú là ngầu biên làm tớ lật chữ biên, chữ phiến... mỏi cả tay mà không thấy. Té ra ổng đọc theo âm Bắc Kinh của từ Bian...

NHẨM XÀ : Quảng đọc là ỷâm xà, tức là ẩm trà.

NHỊ TỲ : âm Quảng của chữ Nghĩa Địa, đã nói ở trên (xem hui nhị tì)

PHÁ LẤU : Tiều đọc là phá lấu. Hán Việt là đả lỗ. Lỗ là muối mặn, kho mặn. Đả lỗ là ướp mặn. Thịt phá lấu thì khỏi cần tả chi cho nhiều, chỉ cần tưởng tượng với chai đế là đã nhỏ dãi.

PHÁNH THÒN XÁNG : Quảng đọc là fảl thoòng xál. Hán Việt là phiên đường sơn. Chữ này ít thông dụng, tớ chưa bao giờ nghe, nhưng cũng xin biên ra đây bởi vì cái chữ Thòn Xáng hay Đường Sơn. Lật từ điển tìm ý nghĩa của chữ Đường Sơn mà chẳng thấy cuốn nào giải thích cho rõ ràng. Tại sao lại thắc măc. Tại vì ai mà không nhớ phim "Đường Sơn đại huynh" mà Lý Tiểu Long thủ vai chính. Ông Lê Ngọc Trụ nói rằng Đường Sơn có nghĩa là Tàu (Trung Quốc). Nếu đúng thế thì "Đường Sơn đại huynh" là đại ca người Tàu, có thế thôi. Còn chữ Phiên có nghĩa là về. Phiên Đường Sơn là đi về Tàu, quê cha đất tổ của họ.

PHAY : Phay như thịt gà xé phay. Quảng đọc là fai. Hán Việt là khối, tức là miếng nhỏ xé vụn, lát mỏng.

PHÌ LÚ : Quảng đọc là fèi lôu. Hán Việt là phì lão. Phì là mập. Lão của Tàu không phải luôn có nghĩa là ông lão. Lão thường để chỉ một người bạn, một người quen. Như tớ hay gọi anh em bằng Lão. Nôm na là thằng mập.

PHỔ KY : Quảng đọc là fỏ kêi. Hán Việt là hỏa ký. Hỏa là người giúp việc làm bếp, ký thì như thư ký. Hỏa ký là anh bồi chạy bàn hoặc người giúp việc trong tiệm buôn bán.

PHỔ (Phở, phổi) TAI : Quảng đọc là hỏi tai. Hán Việt là Hải Đới. Hải là biển, đới là dây. Rong biển. Nấu chè tàu thưng (đậu xanh) với phổ tai (rong biển).

PHỞ : Tiếng này thì bàn cãi cả ngày không hết. Có người nói rằng Phở là từ chữ Pot au feu, một loại "xúp" Tây. Mùa đông tới thì tớ vẫn hay nấu pot au feu cho cả nhà ăn mấy ngày. Dễ ợt. Hành, poireau, carốt, củ cải trắng, khoai tây, cần tàu nấu chung với xương bò và thịt bò cho thiệt nhừ thì thành pot au feu. Nhưng ông Lê Ngọc Trụ lại nói rằng phở là từ ngầu ỵuc fảnh. Ngầu ỵuc là ngưu nhục, thịt bò. Fảnh là phấn. Phấn viết có bộ mễ là đồ làm bằng bột gạo. Nhưng ông không giải thích rõ tại sao từ fảnh mà lại lọt ra thành phở. Hình như Nguyễn Tuân có lối giải thích riêng của ông ta. Mai mốt có thêm giờ rảnh thì sẽ tìm hiểu cho tường tận.

 

SỞ HỤI : Đó là đọc theo giọng Tiều. Hán việt là sở phí. Thí dụ : Sở hụi đám tiệc này bao nhiêu?

TẢ PÍN LÙ : Âm Quảng là Tả Píl Lồu. Hán việt là Đả Biên Lư. Đả không phải chỉ là đấm đá như "đả phiên thiên hạ vô địch thủ", nhưng có thể hiểu như làm một hành động nào đó. Biên như biên giới, Lư là lẩu tức là cái lò lửa. Tại sao lại là biên? Có lẽ ý nói rằng anh em xúm lại chung quanh (biên) món lẩu để nhậu chơi. Có phải nên hiểu chữ biên như thế không? Sáng nay có đọc câu Kiều : Dường như bên nóc bên thềm / Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng. Thì "bên nóc bên thềm" có lẽ phải hiểu rằng chung quanh đây.

TÀI XỈU : đã bàn. Đọc giọng Quảng. Âm hán việt là đại tiểu, tức chơi lúc lắc ăn tiền. Đặt theo số lớn (đại) và số nhỏ (tiểu).


TÀO KÊ : đó là đọc theo âm Tiều. Âm hán việt là bảo mẫu, tức là mụ Tú Bà, chủ nhà điếm.

TÀU HỦ : Quảng đọc là Tầu Fù. Âm hán việt là đậu phụ hay đậu hủ.

TÀU HỦ KI : Quảng đọc là Tầu Fù phềi. Phềi là Bì, tức là da. Tàu hủ ky là lớp váng vàng nổi trên mặt khi nấu đậu hủ.

TÀU VỊ YỂU : Quảng đọc là Tầu Mểy Yầu. Hán Việt là đậu vị dầu. Đậu như đậu nành. Vị là mùi vị. Dầu là chất cốt.

TÁU hay TÁO XỌN : Tiều đọc là Tàu Xọn. Âm hán việt là đậu soạn, tức là đậu xanh.

TẰNG XẠI : Tiều đọc là Tằng Xại. Âm hán việt là đông thái. Đông như mùa đông. Thái là rau. Một thứ cải bắc thảo ướp muối để dành ăn qua mùa đông. Ở Tây bây giờ họ thường bán cải tằng xại trong một cái hủ tròn tròn dẹp dẹp làm bên Tàu nhập cảng qua. Ngon và rẻ. Mỗi lần làm một món gì cần có nhân thịt thì tớ bỏ thêm chút tằng xại thái thiệt nhỏ cho thêm chút mùi.

TẨM QUÁCH : Đó là đọc theo giọng Quảng. Hán việt không có chữ tương đương với chữ Tẩm, có lẽ đây là một thổ âm Quảng. Quách là âm hán việt của chữ Cốt. Thí dụ như xí quách (trư cốt) tức là xương heo. Cũng còn đọc tẩm quách là tẩm quất. Ba cái đồ đấm bóp kiểu Tàu đó mà.

 

XÀ BẦN : Tiều đọc là chập bầng. Hán Việt là thập bình. Thập như thập cẩm, bình viết như chữ bình. Nghĩa là đủ thứ loạn xà ngầu. Bây giờ người ta gọi xà bần là gạch ngói nát vụn, nhưng lúc trước xà bần cũng còn được dùng để chỉ đồ ăn dư, đồ ăn vụn.

XÁ LỊ : Quảng đọc là xùe lỉ. Hàn việt là tuyết lê. Tuyết viết như tuyết trắng, lê như trái lê. Tức là trái lê, có vậy thôi. Ổi xá lị là trái ổi to và ngon ngọt như trái lê.

XÁ XÍU : đọc theo giọng Quảng, thổ âm Quảng? Khi viết thì chữ Xíu đọc theo hán việt là thiêu. Thịt xá xíu thì ai mà không biết.

XẤC BẤC XANG BANG : đó là tại mình đọc theo giọng Quảng. Hán việt là thất quốc tha bang. Thất là mất, quốc là đất nước, tha là của người ta, bang cũng có nghĩa là nước nhà. Thất quốc tha bang là phải đi qua xứ người sinh sống.

XÂM BỔ LƯỢNG : đó là đọc theo giọng Quảng. Hán việt là thanh bổ lương. Thanh là tươi mát, bổ là bổ béo, lương cũng có nghĩa là lành lạnh mát mát. Đã là người Việt thì ai mà chưa ăn chè Thanh Bổ Lương?

XẨM : Đọc theo giọng Quảng. Hán việt là Thím. Nghĩ cũng vui. Chệt là chú, thì mình lại đọc theo Tiều. Xẩm là thím thì lại đọc theo Quảng. Chú Chệt, thím Xẩm đấy!

XÍ LẮC LÉO : tớ vẫn còn nhớ bài cải lương hề : xí lắc léo, ông liệu thân! mằng nó đừng đụng tui... Đó là mình đọc theo Quảng Xỉ léo. Âm hán việt là tử liễu. Tử là chết, liễu là xong rồi. Nôm na là coi chừng chết ngheng mày !

XÍ MỤI : Quảng đọc là Xúi mùi. Hán việt là Toan Mai. Toan là chua, Mai là trái mai. Mấy cô mấy bà, nhất là mấy bà mang bầu, ai lại không biết xí mụi.

 

Bài mới
 22/08/2009 5:12 SA
 
 Được sửa bở boca  vào 22/08/2009 5:14:45 SA

Chào các bác,

   Đọc bài này mới vỡ ra là Phay trong "gà xé phay" hay "dao phay" hay từ "phay" trong kỹ thuật vốn là tiếng Hán khẩu ngữ. Thế mà ông Nghiệu lại bảo ảnh hưởng không đáng kể trong tiếng Việt.

   Giờ mà nói "gà xé khối" "dao khối" hay "thợ khối" "kỹ thuật khối tiện" thì ai mà hiểu được.

   Xem đây mới biết là viết "Sâm bổ lượng" như ở Hà nội hay thấy là sai chính tả hoàn toàn. Bác dovuhue đưa vào BÚT ĐỎ nhé. Hồi xưa bọn tớ có lần cãi nhau là tại sao gọi là sâm. Có chú gân cổ lên cãi là món gốc của nó bên Tàu người ta bỏ sâm vào. Té ra là Thanh Bổ Lương, chẳng dính gì đến sâm hay lượng cả. Hay thật

   Còn món BÒ BÍA chưa ăn bao giờ, đọc sách lại tưởng món thịt bò như bò khô hay bò kho gì đó. Té ra là Bánh mỏng

Boca

Bài mới
 25/07/2010 12:07 SA
 
boca đã viết:

Chào các bác,

Đọc bài này mới vỡ ra là Phay trong "gà xé phay" hay "dao phay" hay từ "phay" trong kỹ thuật vốn là tiếng Hán khẩu ngữ. Thế mà ông Nghiệu lại bảo ảnh hưởng không đáng kể trong tiếng Việt.

Giờ mà nói "gà xé khối" "dao khối" hay "thợ khối" "kỹ thuật khối tiện" thì ai mà hiểu được.

Xem đây mới biết là viết "Sâm bổ lượng" như ở Hà nội hay thấy là sai chính tả hoàn toàn. Bác dovuhue đưa vào BÚT ĐỎ nhé. Hồi xưa bọn tớ có lần cãi nhau là tại sao gọi là sâm. Có chú gân cổ lên cãi là món gốc của nó bên Tàu người ta bỏ sâm vào. Té ra là Thanh Bổ Lương, chẳng dính gì đến sâm hay lượng cả. Hay thật

Còn món BÒ BÍA chưa ăn bao giờ, đọc sách lại tưởng món thịt bò như bò khô hay bò kho gì đó. Té ra là Bánh mỏng

Boca

Xin lỗi bạn, riêng từ phay trong thợ phay, kỹ thuật phay tiện là mượn của tiếng Anh hoặc Pháp (File) có nghĩa là gọt giũa, không phải tiếng Hán.

Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Diễn đànDiễn đànNghệ thuật và k...Nghệ thuật và k...Biển nguồn chữ ...Biển nguồn chữ ...Các từ Việt gốc Hán khẩu ngữCác từ Việt gốc Hán khẩu ngữ