02 Tháng Chín 2014
 
Diễn đànDiễn đànCông nghệ thông...Công nghệ thông...Các lý thuyết v...Các lý thuyết v...Một số quy tắc giúp viết đúng chính tả tiếng ViệtMột số quy tắc giúp viết đúng chính tả tiếng Việt
Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Bài mới
 19/11/2010 9:20 CH
 
 Được sửa bở auduongphong  vào 19/11/2010 9:30:44 CH

Chào cả nhà,

Tiếp theo các bài thảo luận về "các hay những", "i ngắn hay y dài", tôi xin tiếp tục bằng các quy tắc giúp viết đúng chính tả mà tôi đã đọc được. Tôi chỉ repost, bác nào rảnh thì có thể tổng hợp lại các bài dưới đây thành một bài cho người đọc dễ theo dõi và dễ nhớ.

P/S: nếu tôi post nhầm chuyên mục, xin các bác admin di chuyển các bài này qua chuyên mục khác cho đúng. Cám ơn.

Bài 1: Viết đúng dấu thanh hỏi, ngã - Phạm Nhân Thành

Bài tương tự: "Một số quy tắc giúp học sinh tiểu học viết đúng chính tả"

VIẾT ĐÚNG DẤU THANH HỎI, NGÃ

Phạm Nhân Thành

Từ gợi ý của một số đồng nghiệp, tôi có bài viết nhỏ này. Nội dung không phải là mới mà chỉ tóm lược những vấn đề chủ yếu nhất thuộc lĩnh vực dấu thanh để những ai quan tâm đến vấn đề này tiện tham khảo, tra cứu.

Trừ một số địa phương thuộc miền bắc, hầu hết người miền trung và miền nam đều phát âm những từ có dấu thanh hỏi, ngã không phân biệt được cường độ của chúng nên khi viết cũng hay nhầm lẫn giữa hai dấu này. Có thể khăc phục tình hình này không? Câu trả lời là có nếu ghi nhớ được một số quy tắc sau.
1.Quy tắc hài thanh hỏi, ngã đối với từ láy
1.1.Trước hết cần phân biệt từ láy với từ ghép
1.1.1.Từ ghép là loại từ ghép hai âm tiết trở lên mà một lượng lớn từ thoạt nhìn giống từ láy. Chẳng hạn các từ lỡ dở, lí lẽ, lú lẫn, mồ mả, mỏi mệt, giữ gìn, nghỉ ngơi, sửa chữa, nhỏ nhẹ, sửa soạn, giãy nảy, nhểu nhão, kiêng cữ, ủ rũ... Điều cần nhớ là hai âm tiết của từ ghép đều có nghĩa chân xác. Tình hình cũng giống như loại từ ghép ăn uống, nhà cửa, quần áo, đau ốm... Tức là mỗi âm tiết của từ láy nếu đứng riêng thì trở thành một từ có nghĩa xác định.
1.1.2.Nhưng từ láy lại khác. Đó là từ cũng có cấu tạo từ hai âm tiết trở lên nhưng ít nhất có một âm tiết không có nghĩa xác định
(1). Chẳng hạn loại từ có cả hai âm tiết đều không có nghĩa như lởn vởn, lủng củng, lững thững, tủn mủn, xởi lởi, đủng đỉnh... Một số từ khác lại có âm tiết đứng trước hoặc đứng sau không mang nghĩa như lỏng lẻo, mủm mỉm, nhỏ nhẻ... Tức là nếu tách ra thì các âm tiết lẻo, mủm, nhẻ không có nghĩa xác định. Nói khác, chúng không phải là một từ khi đứng riêng.
1.2.Quy tắc trầm bổng
1.2.1.Quy tắc trầm chi phối từ láy có một âm tiết mang dấu thanh là huyền, nặng, ngã thì âm tiết đi cùng cũng có dấu ngã.
Ví dụ1: từ láy có một âm tiết mang thanh huyền mùi mẽ, mỡ màng, phè phỡn, phũ phàng, rành rẽ, rầu rĩ, rũ rượi, sàm sỡ, sỗ sàng, sững sờ, sừng sững, tầm tã, tròn trĩnh, vững vàng, vỗ về, vòi vĩnh, vẽ vời, xoàng xĩnh, bão bùng, bẽ bàng, buồn bã, còm cõi, chồm chỗm, dễ dàng, đẫy đà, hãi hùng, hỗn hào, hững hờ, kĩ càng, lỡ làng, lững lờ, não nùng, ngỡ ngàng...
Ví dụ 2: từ láy có một âm tiết mang thanh nặng bụ bẫm, chặt chẽ, chập chững, dạn dĩ, doạ dẫm, dựa dẫm, đẹp đẽ, đĩnh đạc, gạ gẫm, gặp gỡ, giặc giã, gọn ghẽ, hợm hĩnh, khập khiễng, lạnh lẽo, lạc lõng, lọc lõi, nhạt nhẽo, ngặt nghẽo, nghễu nghện, ngỗ ngược, õng ẹo, quạnh quẽ, rộn rã, rộng rãi, rũ rượi, thưỡn thẹo, gỡ gạc, giãy giụa, não nuột, nhễ nhại, nhẵn nhụi...\
Ví dụ 3: từ láy có một âm tiết mang thanh ngã lã chã, lẽo đẽo, lõm bõm, lõng bõng, lỗ chỗ, lững thững, nhõng nhẽo...
1.2.2.Quy tắc bổng chi phối từ láy có một âm tiết mang dấu thanh ngang, sắc, hỏi thì âm tiết đi cùng cũng có dấu hỏi.
Ví dụ 1: từ láy có một âm tiết mang thanh ngang da dẻ, dai dẳng, dư dả, đon đả, nham nhở, thong thả, thơ thẩn, sa sả, vui vẻ, xây xẩm, leo lẻo, hả hê, hở hang, lẻ loi, mỏng manh, mở mang, rủ rê, nể nang...
Ví dụ 2: từ láy có một âm tiết mang thanh sắc bướng bỉnh, cứng cỏi, gắng gỏi, gắt gỏng, khấp khởi, kháu khỉnh, hắt hủi, hóm hỉnh, hiểm hóc, hớn hở, lắt lẻo, lấp lửng, láu lỉnh, mát mẻ, nhảm nhí, phấp phỏng, rẻ rúng, rác rưởi, tấp tểnh, trắng trẻo, vất vưởng, vớ vẩn, vắng vẻ, xấp xỉ, xó xỉnh, xối xả, tỉnh táo, thẳng thắn, gởi gắm,...
Ví dụ 3: từ láy có một âm tiết mang thanh hỏi thỏ thẻ, hổn hển, bủn rủn, đủng đỉnh, lảo đảo, lủng củng, lỏng lẻo...
Lưu ý 1: Để ghi nhớ quy tắc hài thanh trầm bổng (huyền-ngã-nặng/ngang-hỏi-sắc), người ta có hai câu lục bát sau:
Em huyền mang nặng ngã đau
Anh ngang sắc thuốc hỏi đầu bớt chưa
Lưu ý 2: Ngôn ngữ nào cũng có ngoại lệ nên quy tắc hài thanh tiếng Việt cũng có một số ngoại lệ sau:
-Âm tiết có thanh ngang nhưng âm tiết đi cùng lại có thanh ngã: khe khẽ, lam lũ, ngoan ngoãn, nông nỗi, trơ trẽn, ve vãn...
-Âm tiết có thanh huyền láy với âm tiết có thanh hỏi: bền bỉ, chàng hảng, chồm hổm, chèo bẻo, niềm nở, phỉnh phờ, sừng sỏ.
-Âm tiết có thanh nặng đi với thanh hỏi:gọn lỏn, nhỏ nhặt, vẻn vẹn...

2.Quy tắc dấu thanh đối với từ Hán Việt
Hơn 60% tiếng Việt có nguồn gốc Hán nhưng phát âm Việt nên gọi ghép là từ Hán Việt để phân biệt với từ thuần Việt. Đa số từ Hán Việt có cấu tạo từ hai âm tiết trở lên và thường mang nghĩa khái quát cao.
2.1. Quy tắc thanh ngã của từ Hán Việt được ghép thành công thức mình nên nhlà viếtdấu ngã. Tức là với những từ Hán Việt có phụ âm đầu M, N. Nh, L, V, D, Ng thì phải viết thanh ngã. Ví dụ: M (mãnh liệt, mãn khoá, minh mẫn, mẫu hệ, mẫu giáo, mĩ thuật, mĩ lệ...), N (não bộ, truy nã, nỗ lực, phụ nữ...), Nh (nhãn hiệu, nhẫn nại, truyền nhiễm, thổ nhưỡng, nhũ mẫu), L (lão hoá, lãnh đạo, lãnh tụ, lãng phí, lễ nghĩa, lũng đoạn, tích luỹ...),V (vãn hồi, vãng lai, vĩ đại, vĩ tuyến, viễn xứ, vĩnh viễn...), D (dã man, hướng dẫn, dĩ vãng, dĩ nhiên, diễn viên, diễm lệ...), NG/NGH (bản ngã, ngôn ngữ, ngưỡng mộ, đội ngũ, nghĩa vụ, nghĩa trang...)
2.2.Quy tắc thanh hỏi được áp dụng với mọi phụ âm còn lại (tức là trừ các phụ âm nói trên) và các nguyên âm A, Â, Ô, Y kể cả âm đệm U.
2.2.1.Với các phụ âm B: bảo vệ, bản lĩnh, dân biểu, bảng nhãn... (Ngoại lệ: bãi công, bãi chức, bãi khoá, hoài bão, bão hoà), C: cảm tình, cảnh cáo, cẩn thận, cổ tích, củng cố, cử hành, nghĩa cử... (Ngoại lệ: cưỡng bức, linh cữu), Ð: đảm nhiệm, can đảm, đảng phái, điển hình, đả kích... (Ngoại lệ: đãi ngộ, đãng trí, phóng đãng, hiếu đễ, đỗ trọng, đỗ quyên), H: hải cảng, hải quân, hảo hạng, hoan hỉ, hiển vinh, hủ tục, hoả pháo, hoả tiễn, hoảng hốt... (Ngoại lệ: sợ hãi, kinh hãi, hãm hại, hung hãn, kiêu hãnh, hoãn binh, trì hoãn, hỗ trợ, hỗn hợp, huyễn hoặc, hữu nghị, hữu hạn, hãng), K: kỉ cương, kỉ luật, kỉ niệm, kiểm điểm... (Ngoại lệ: kĩ nữ, kĩ nghê, kĩ thuật, kĩ năng, kĩ xảo, kĩ sư, kĩ lưỡng), KH:khả ái, khả năng, khải hoàn, khảo cổ, khẩn cấp, khỏa thân, khẩu khí, khiển trách, khủng bố, khuyển nho... , PH: gia phả, phản chiếu, phản ánh, phẩm chất, phủ định... (Ngoại lệ:phẫn nộ, phẫn uất, phẫn chí, phẫu thuật), Q: quả cảm, quả phụ, quản lí, quản giáo, quảng cáo, quảng đại, quảng trường, quỷ kế, quỷ quyệt... (Ngoại lệ: quẫn bách, quẫn trí, cùng quẫn, quỹ đạo), S: sản sinh, sản vật, sở hữu, sủng ái, lịch sử... (Ngoại lệ: sĩ, suyễn,sãi), T: miêu tả, vận tải, tản cư, tẩu thoát, tử trận, phụ tử, tiểu tiết... (Ngoại lệ: tiễn biệt, hỏa tiễn, tiễu trừ, tĩnh mịch, tuẫn tiết), TH: sa thải, thảm kịch, thảm họa, thản nhiên, thảng thốt, thảo mộc, thiểu số, thiển cận... (Ngoại lệ: mâu thuẫn, hậu thuẫn, phù thũng), TR:triển khai, trở lực, trưởng giả, trưởng nam... (Ngoại lệ: trữ lượng, tích trữ, trẫm, chim trĩ, ấu trĩ, bệnh trĩ), X: xả thân, xảo trá, ngu xuẩn, xử lí, công xưởng.... (Ngoại lệ: xã hội, xã tắc, xã giao).
2.2.2. Với các nguyên âm A (ảo ảnh, ảm đạm, quan ải...), Â (ẩn sĩ, ẩn số, ẩn dật, ẩm thực...), Ô (ổn định, ổn áp, ổn thoả...), Y (ỷ lại, ỷ thế, yểm hộ, yểm trợ, yểu mệnh, yểu tử...), U (ủng hộ, uổng mạng, uổng phí, uẩn khúc, uỷ nhiệm, ủy quyền, uỷ viên, uỷ thác, uyển chuyển...).

3.Cũng còn một vài quy tắc nữa dành cho các từ thuần Việt, các từ đồng nghĩa, gần nghĩa nhưng đều là các quy tắc phái sinh của những quy tắc nêu trên. Do đó, chúng không được đề cập ở đây để tránh dài dòng. Bạn đọc chỉ cần ghi nhớ hay sử dụng những quy tắc trên để kiểm tra dấu thanh khi viết văn bản thì có thể tự minh phát hiện thêm những quy tắc phái sinh. Chính điều này góp phần quan trọng hình thành kinh nghiệm hoặc thói quen viết đúng dâu thanh.

P.N.T


(1) Ngoài ra cần biết thêm về mặt hình thức, từ láy gồm loại láy hoàn toàn (xanh xanh, đo đỏ, thoang thoảng...) và láy bộ phận gồm hai phần: láy phụ âm (nnang, rrê, thấpthỏm, phấp phỏng, khập khiễng...) và láy phần vần (lang thang, bủn rủn, lủng củng...).

Bài mới
 19/11/2010 9:24 CH
 

Bài 2: Chính tả trong tiếng Việt

http://diendan.daitangkinhvietnam.org...

Lên mạng tìm hiểu "quy tắc chính tả trong tiếng Việt" tình cờ, tìm được bài này có thể giúp cho mình và người viết tiếng Việt trong sáng hơn.

(theo Tiếng Việt Thực Hành – Vương Hữu Lễ, Đinh Xuân Quỳnh, Nhà xuất bản Thuận Hóa - 1998)

1. Các lỗi về thanh điệu:
Trong các lỗi về thanh điệu thì viết sai dấu hỏi và dấu ngã là phổ biến nhất. Để chữa lỗi này, có thể dùng những mẹo luật sau đây:

1.1 Huyền ngã nặng, sắc hỏi không

1.1.1. Trong các từ láy âm đầu (thuần Việt), thanh ngã đi với thanh huyền hoặc thanh nặng, thanh hỏi đi với thanh sắc hoặc thanh ngang (không dấu)

Ví dụ:
a) Huyền ngã nặng: dễ dàng, rõ ràng, buồn bã, hờ hững, cãi cọ, rõ rệt, mạnh mẽ, gặp gỡ,...
cool.gif Sắc hỏi không: bảnh bao, sửa sang, hăm hở, thong thả, gửi gắm, rải rác, hớn hở, mát mẻ,...

Chú ý:
- Những từ láy không có phụ âm đầu (hay nói đúng hơn, có phụ âm đầu zê-rô) cũng theo quy tắc này: ầm ĩ, ỡm ờ, õng ẹo, âm ỉ, oi ả, óng ả, êm ả, ê ẩm, ủ ê, ít ỏi, ỉ eo,...
- Có một số từ ngoại lệ là: bền bỉ, hoài hủy, hồ hởi, mình mẩy, niềm nở, phỉnh phờ, vỏn vẹn, ve vãn, ễnh ương.
- Từ nông nỗi (có nghĩ tương tự như nỗi niềm ) trong câu “Làm sao ra nông nỗi ấy” là một ngoại lệ; còn từ nông nổi (có nghĩa là nông cạn ) thì theo đúng quy tắc.
- Từ hẳn hòi là một ngoại lệ, có nghĩa gần giống như hẳn hoi (là một từ theo đúng quy tắc).

1.1.2. Trong các từ láy toàn bộ có hiện tượng biến âm, thanh ngã đi với thanh huyền, còn thanh hỏi thì đi với thanh ngang (không dấu).

Ví dụ:
a) ngã - huyền: đằng đẵng, sừng sững, vò võ...
cool.gif hỏi – ngang: mơn mởn, lanh lảnh, văng vẳng...
Chú ý: Có một số ngoại lệ là: lẳng lặng, khe khẽ, ngoan ngoãn, se sẽ.

1.1.3. Quy tắc Huyền ngã nặng, Sắc hỏi không còn tác dụng trong hiện tượng biến âm, tạo từ, khiến cho một số từ có nghĩa giống nhau hay gần giống nhau mà chỉ khác nhau về thanh.

Ví dụ:
a) Huyền ngã nặng: lãi (lời - lợi), cũng (cùng), dẫu (dù), đã (đà), ngỡ (ngờ), cỗi (cội), đỗ (đậu), giẫm (giậm), chĩa (chìa), mõm (mồm), trĩu (trịu)...
cool.gif Sắc hỏi không: chửa (chưa), tản (tán – tan), cảm ơn (cám ơn), nghĩa (ngãi – nghì), thảo (tháu), cản (can), chẳng (chăng), thả (tha)...

Chú ý: Có các ngoại lệ: lẽ (lí), lõm (lỏm)
Cũng trong hiện tượng biến âm tạo từ này, có một số từ đồng nghĩa hay gần nghĩa nhau mà chỉ khác nhau có phụ âm đầu. Nhận xét này cũng có thể giúp ta viết đúng dấu hỏi hay dấu ngã.

Ví dụ:
khẽ - sẽ, ngẫm - gẫm, rữa - vữa...
xẻ - chẻ, phỏng - bỏng, vổng - chổng...
1.1.4. Đối với những từ như sửa chữa, lỡ dở, ủ rũ..., ta có thể phân tích ra từng thành phần cấu tạo, rồi áp dụng quy tắc Huyền ngã nặng, Sắc hỏi không cho từng thành phần, thì có thể viết đúng chính tả.
sửa chữa = sửa sang + chữa chạy > sửa chữa
lỡ dở = lỡ làng + dở dang > lỡ dở
ủ rũ = ủ ê + rũ rượi > ủ rũ
Đối với những từ như bỡ ngỡ, bẽn lẽn... , ta có thể liên tưởng đến những từ ngỡ ngàng, trơ trẽn...

1.2. Dân Việt Nam mạnh lắm

1.2.1 Quy tắc này có nghĩa là ”Những yếu tố Hán Việt có phụ âm đầu là D, V, N (kể cả NH, NG, NGH), M, L thì viết với dấu ngã”

D: dã man, dũng sĩ, anh dũng , bồi dưỡng , diễn đạt, diễn viên, diễm lệ, kiều diễm, dẫn chứng, sở dĩ , dĩ nhiên, bất đắc dĩ , dữ liệu...
V: vĩ đại, hùng vĩ , vũ khí, vũ lực, vũ trang, dĩ vãng , vãng lai, vĩnh viễn , viễn thị, vĩ tuyến, cổ vũ , vũ khúc...
N: nỗ lực, phụ nữ, tầm nã, truy nã , trí não ... nhẫn nại, kiên nhẫn [i], thanh [i] nhã , truyền nhiễm , tham nhũng , phiền nhiễu , nhũng nhiễu , thổ nhưỡng ... ngẫu /i] nhiên, bản [i] ngã , ngũ cốc, đội ngũ , ngôn ngữ , tín ngưỡng ... nghĩa vụ, chủ nghĩa, nhân nghĩa , nghiễm nhiên...
M: mã số, mã lực, mãnh liệt, mẫn cảm, mĩ mãn , thẩm mĩ , phụ mẫu , mẫu số, miễn phí, miễn cưỡng...
L: lãnh đạo, lãng mạn, nghi lễ , lĩnh vực, chiếm lĩnh , cương lĩnh , triển lãm , kết liễu , lão luyện, lão thành, lữ khách, thành lũy , lưỡng /[i] lự...

Chú ý: Có ngoại lệ: [i] ngãi (“cây thuốc”)

1.2.2. Những tiếng Hán Việt còn lại (có các phụ âm khác) thì viết với dấu hỏi, trừ các ngoại lệ sau đây: bãi khóa, hoài bão , bĩ cực, cưỡng bức, linh cữu , chiêu đãi , quang đãng , phóng đãng , kinh hãi , hãm hại, kiêu hãnh , trì hoãn , hỗ trợ , hỗn hợp, hữu ích, bằng hữu , huyễn hoặc, kĩ năng, phẫn nộ, giải phẫu , cùng quẫn , thủ quỹ , thi sĩ , (bệnh) suyễn , tiễn biệt, thực tiễn , tiễu trừ, thanh tĩnh , tuẫn tiết, mâu thuẫn , (chim) trĩ , dự trữ , xã hội...

2. Lỗi về phụ âm đầu
[b] 2.1. Quy tắc i ê e: Quy tắc này giúp ta viết đúng G/GH, NG/NGH, K/C/Q

[b] 2.1.1. Chữ G ghi âm “gờ” sẽ được thêm H khi nguyên âm đi sau nó là i (kể cả iê), ê, e; còn các nguyên âm khác đi sau thì nó không được thêm H.

Ví dụ: GH: ghi, ghim, ghìm, ghiền, ghê, ghế, ghen, ghèn, ghét...
(so sánh với G: ga, gà, gã, gặm, gắp, gặp, gẫm, gấc, gật, gõ, gói, gọi, gỗ, gớm, gửi, gù, gương... )

Chú ý: G trong gì, gìn, giã, giết, giêng, giếng... không phải ghi âm “gờ” mà lại ghi âm “giờ”.

2.1.2. Chữ NG ghi âm “ngờ” sẽ được thêm H khi nguyên âm đi sau nó là i (kể cả iê), ê, e; còn trường hợp khác thì không thêm H.

Ví dụ: NGH: nghi, nghỉ, nghĩ, nghiện, nghiệp, nghiên, nghề, nghênh, nghếch, nghe, nghẹn, nghẹt...
(so sánh với NG: ngà, ngang, ngắm, ngất, ngó, ngọng, ngốn, ngờ, ngủ, ngữ, ngước... )

2.1.3. Để ghi âm “cờ”, ta viết K khi nguyên âm đi sau là i (kể cả ia, iê), ê, e; các nguyên âm khác đi sau thì viết C; còn khi có âm đệm thì viết Q.

Ví dụ:
K: kí, kia, kiếm, kiến... kê, kể, kết... kè, kẻ, kén...
C: cá, can, cắp, cân... có, còm, con, cô, cơ... cụ, của, củi, cuốc...
Q: qua, quang, quắc, quê, quên... quy, quyên, quyết...

2.2. Giao tranh cho tôi cầm: Quy tắc này giúp ta viết đúng GI- (chứ không viết D-)

2.2.1. Nếu gặp một từ không biết viết GI- hay D- thì ta viết GI- khi từ ấy có nghĩa gần giống với một từ khác có phụ âm đầu là TR-, CH-, T-, hay C- (K-).

Ví dụ:
GI- ~ TR-: giành ~ tranh, giao ~ trao, giở ~ trở, giương ~ trương...
GI- ~ CH-: giấu ~ che, gì ~ chi, giống ~ chủng...
GI ~ T: giặc ~ tặc, giã từ ~ tạ từ, giọng ~ tiếng...
GI- ~ C- (K-): giác ~ cắc, giăng ~ căng, giỗ ~ kị...
2.2.2. Các sinh viên vùng Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên có thể liên hệ với tiếng địa phương của mình để dễ nhớ hai trường hợp: GI- ~ TR- (già ~ tra, giun ~ trùn) và GI- ~ CH- (giữ ~ chự, giòn ~ chon)...

2.3. Dặn đến nhà thương: Quy tắc này giúp ta viết đúng D- (chứ không viết GI-).
2.3.1. Nếu gặp một từ không biết viết D- hay GI-, thì ta viết D- khi từ ấy có nghĩa gần giống với một từ khác có phụ âm đầu là Đ, NH, hay TH.

Ví dụ:
D- ~ Đ-: dao ~ đao, dĩa ~ đĩa~, dằn ~ đằn...
D- ~ NH-: dồi ~ nhồi, dơ ~ nhơ, dịp ~ nhịp...
D- ~ TH-: [b] dư ~ thừa, dược ~ thuốc...

[b] 2.3.2. Các sinh viên vùng Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên có thể liên hệ với tiếng địa phương của mình để dễ nhớ trường hợp: D- ~ Đ- (da ~ đa), dai ~ đai, dầm ~ đầm...)

3. Lỗi về phụ âm cuối
Sinh viên Trung và Nam Bộ thường lẫn lộn –N với NG, và –T với –C.

3.1. Để viết đúng các phụ âm cuối này, cách tốt nhất là liên hệ với những từ đồng nghĩa hay gần nghĩa:

Ví dụ:
-N: an (yên), can (cản, ngăn), cuốn (quyển), buồn (muộn), lằn (hằn), ngàn (nghìn), chán (nản, ngán)...
-NG: đang (đương), vàng (hoàng), sảng (hoảng), kháng (chống), làng (hương), buồng (phòng)...
-T: viết (bút), gặt (cắt, chặt), hạt (hột), ngạt (ngột), sát (giết), mẹt (tẹt, trẹt), trát (trét), xem xét (quan sát)...
-C: tạc (đục), phước (phúc), rán sức (tàn lực), tam giác (ba góc)...

3.2. Trong những từ láy toàn bộ có hiện tượng biến âm, -T chuyển thành –N và –C chuyển thành -NG.

Ví dụ:
-T > -N: chát chát > chan chát, thoắt thoắt . thoăn thoắt, mát mát > man mát, sát sát > san sát...
-C > -NG: rắc rắc > răng rắc, biếc biếc > biêng biếc, vặc vặc > vằng vặc, phắc phắc > phăng phắc...

Chú ý: Cần phân biệt những cặp từ sau đây:
man mát “hơi mát” = man mác “mênh mông”
phăn phắt “rập ràng” = phăng phắc “im lặng”
bàn bạc “thảo luận” = bàng bạc “rải rác khắp nơi”

4. Những nhận xét bổ sung
4.1. Những từ láy vần thường có hai âm tiết giống nhau về thanh điệu. Do đó, thường có khả năng là cả hai âm tiết đều có dấu ngã hay cả hai đều có dấu hỏi.

Ví dụ:
bẽn lẽn, lã chã, lẽo đẽo, lỗ chỗ, lõm bõm, lững thững...
bủn rủn, đủng đỉnh, lảo đảo, lẩm cẩm, lủng củng, lỏng lẻo...

4.2. Nói chung trong tiếng Việt, những từ có nghĩa giống nhau hay gần nhau thì thường là có hình thức giống nhau. Ta có thể lợi dụng đặc điểm này để có thể viết đúng chính tả cho một số vần như sau:
–uôi : đuôi, chuôi, cuối
–ư t: bứt, rứt, dứt, đứt, giựt, nứt, sứt
–at : bạt, gạt, ngạt, phát, phạt, sạt, tát, tạt
–ăt : cắt, chặt, gặt, hắt, lặt, nhặt, ngắt, tắt, thắt, vắt, vặt, xắt
–oi : oi, lòi, ngoi, ngòi, thòi, hói, khói, chòi, đòi, mòi, nòi, roi, soi, voi, vòi, xoi, xói...
–en : chen, kén, len, lẻn, lén, nén, then, xen

4.3. Để ghi âm , chữ Việt ta có hai chữ là I và Y. Nhà nước (năm 1984) có quy định như sau:
- Nếu không có sự thay đổi về âm hay nghĩa (trừ trường hợp Y đi sau âm đệm), thì thay Y bằng I.

Ví dụ: hi sinh, kỉ niệm, lí luận, thẩm mĩ , kĩ thuật... (huy chương, sơn thủy, quý báu...)

- Nếu âm đứng một mình hay ở đầu từ thì viết bằng Y, trừ vài trường hợp đã theo thói quen cũ.

Ví dụ: ý nghĩa, y tế, ỷ lại, yêu thương, yên ổn...
(theo Tiếng Việt Thực Hành – Vương Hữu Lễ, Đinh Xuân Quỳnh, Nhà xuất bản Thuận Hóa - 1998)

Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Diễn đànDiễn đànCông nghệ thông...Công nghệ thông...Các lý thuyết v...Các lý thuyết v...Một số quy tắc giúp viết đúng chính tả tiếng ViệtMột số quy tắc giúp viết đúng chính tả tiếng Việt